PHÁT HUY NGUỒN VỐN XÃ HỘI
TỪ DI SẢN 2000 NĂM PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TRONG THỰC HÀNH LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ HIỆN NAY:
TẦM NHÌN CHÍNH SÁCH VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
(PROMOTING SOCIAL CAPITAL FROM THE 2000-YEAR HERITAGE OF VIETNAMESE BUDDHISM IN THE CURRENT LEADERSHIP AND MANAGEMENT PRACTICES OF THE GRASSROOTS POLITICAL SYSTEM: POLICY VISION AND DEVELOPMENT ORIENTATION)
TS. Vũ Thị Hồng Khanh
Khoa Kinh tế - Xã hội và Môi trường
Học viện Chính trị khu vực I,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tóm tắt:
Bài viết vận dụng lý thuyết “nguồn vốn xã hội” trong xã hội học quản lý để phân tích di sản 2000 năm của Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là tinh thần “nhập thế” và “hộ quốc an dân” tại không gian văn hóa miền Bắc. Bằng việc phân tích các điểm mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm chuyển hóa triết lý Phật học thành nghệ thuật “lãnh đạo mềm” cho đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị cơ sở. Qua đó, bài viết khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc kiến tạo chính sách tôn giáo gắn liền với mục tiêu đại đoàn kết và phát triển bền vững.
Abstract:
The article applies the theory of “social capital” in management sociology to analyze the 2,000-year heritage of Vietnamese Buddhism, especially the spirit of “engaged Buddhism” and “protecting the nation and pacifying the people” within the cultural space of Northern Vietnam. By analyzing the new points in the documents of the 14th National Party Congress, the research proposes solutions to transform Buddhist philosophy into the art of “soft leadership” for the grassroots political system’s cadres. Thereby, the article affirms the Party’s leadership role in creating religious policies closely linked to the goals of great solidarity and sustainable development.
Từ khóa: Vốn xã hội, Xã hội học quản lý, Phật giáo Việt Nam, Ninh tĩnh trí viễn, Đại hội XIV, Hệ thống chính trị cơ sở.
Keywords: Social capital, Management sociology, Vietnamese Buddhism, Tranquility and far-reaching vision, 14th National Congress, Grassroots political system.
1. Đặt vấn đề
Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là nỗ lực, quyết tâm cao độ để thể chế hóa và đưa những định hướng mang tính đột phá từ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Chúng ta đang hiện diện ở một giai đoạn bản lề mang tính bước ngoặt, nơi định hướng phát triển chiến lược đã định vị rõ nét một kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc. Tuy nhiên, trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số toàn diện và sự vận hành phức tạp của kinh tế thị trường, hệ thống chính trị cơ sở - cấp chính quyền gần dân nhất, “tế bào” trực tiếp nhất của bộ máy nhà nước - đang phải đối mặt với những biến thiên xã hội vô tiền khoáng hậu. Quá trình đô thị hóa nông thôn, sự phân tầng xã hội và đa dạng hóa về lợi ích đã làm nảy sinh hàng loạt thách thức gay gắt tại các địa phương, bộc lộ rõ nhất qua các “điểm nóng” về đền bù giải phóng mặt bằng, mâu thuẫn dân sự, khiếu kiện đất đai, và những đứt gãy về chuẩn mực đạo đức truyền thống. Thực tiễn này là minh chứng rõ nét cho thấy: phương thức điều hành nếu chỉ thuần túy dựa vào quyền lực hành chính cứng nhắc, quan liêu đã chạm đến những giới hạn nhất định, đôi khi làm đứt gãy sợi dây liên kết niềm tin giữa quần chúng và chính quyền.
Đứng trước bối cảnh đó, chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị, đặc biệt thông qua định hướng tri thức cốt lõi từ môn học Xã hội học trong lãnh đạo, quản lý, đã chỉ rõ yêu cầu bức thiết phải trang bị cho đội ngũ cán bộ năng lực nhận thức đa chiều về cấu trúc và thiết chế xã hội. Sự chuyển dịch tất yếu từ mô hình “quản lý nhà nước” mang tính áp đặt sang “quản trị công” mang tính kiến tạo và tương tác đòi hỏi người cán bộ cơ sở không chỉ am tường luật pháp, mà còn phải sở hữu bản lĩnh chính trị và năng lực thấu cảm sâu sắc. Trong một môi trường đầy rẫy biến động và áp lực, người lãnh đạo quản lý cần rèn luyện tâm thế ninh tĩnh trí viễn - mượn sự tĩnh tại, an nhiên từ trong nội tâm để giữ vững cái đầu lạnh, thấu đạt bản chất của các hiện tượng xã hội và vươn tầm nhìn chiến lược. Chỉ khi có được sự điềm tĩnh ấy, người cán bộ mới có thể hóa giải các mâu thuẫn bề mặt bằng những giải pháp có chiều sâu gốc rễ. Chính trong hành trình tìm kiếm các phương thức quản trị mang tính bản địa, nhân văn và bền vững này, lý thuyết về “nguồn vốn xã hội” nổi lên như một công cụ học thuật vô cùng sắc bén.
Theo lý thuyết xã hội học hiện đại, nguồn vốn xã hội không phải là tài sản vật chất hữu hình, mà là “tổng thể các nguồn lực thực tế hoặc tiềm năng gắn liền với việc sở hữu một mạng lưới bền vững các mối quan hệ quen biết và thừa nhận lẫn nhau” (Bourdieu, 1986, tr. 248). Ở cấp độ cộng đồng và thực hành quản lý cơ sở, khối tài sản vô hình này được kiến tạo từ ba trụ cột then chốt: mạng lưới tương tác xã hội, niềm tin (trust), và các chuẩn mực đạo đức, luân lý được chia sẻ (Putnam, 2000). Nhằm thu phục nhân tâm, kiến tạo đồng thuận và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tinh thần Đại hội XIV, hệ thống chính trị cơ sở buộc phải nhận diện, trân trọng và khơi dậy tối đa các nguồn vốn xã hội đang tiềm tàng trong lòng quần chúng. Tại Việt Nam, đặc biệt là trong không gian văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, cấu trúc làng xã truyền thống luôn gắn bó máu thịt với các thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng. Trong đó, Phật giáo không đơn thuần là một tôn giáo, mà đã vươn lên trở thành một trụ cột tinh thần vĩ đại, một mạch nguồn văn hóa kiến tạo nên bản sắc dân tộc.
Trải qua hơn 2000 năm lịch sử du nhập, đồng hành và phát triển, Phật giáo Việt Nam đã khước từ sự yếm thế, thoát ly thế tục để vươn mình “bản địa hóa” một cách sâu sắc. Tinh hoa “nhập thế” này đã kết tinh rực rỡ dưới thời Lý - Trần với triết lý “hòa quang đồng trần” (hòa cùng ánh sáng, lẫn cùng bụi bặm cuộc đời) của Phật hoàng Trần Nhân Tông, khẳng định chân lý tu hành phải gắn liền với thực tiễn phụng sự nhân sinh, lấy “Hộ quốc an dân” làm kim chỉ nam hành động. Xuyên suốt hàng thiên niên kỷ, mái chùa làng không chỉ đóng khung trong các nghi thức tâm linh mà đã trở thành những thiết chế xã hội hữu cơ, nơi bồi đắp đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, truyền bá hệ giá trị nhân quả, từ bi, vô ngã, vị tha. Ngày nay, mạng lưới hàng vạn cơ sở tự viện cùng sự hiện diện của lực lượng đông đảo tăng ni, Phật tử đang tạo ra một “khối vốn xã hội” khổng lồ. Đây là một hệ thống chuẩn mực đạo đức tự nguyện có khả năng tự điều chỉnh hành vi con người cực kỳ hiệu quả, đóng vai trò như chất keo sơn gắn kết cộng đồng và là bệ đỡ vững chãi cho mọi chính sách an sinh xã hội của chính quyền địa phương.
Nhận thức tầm vóc chiến lược của nguồn lực này, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm tôn trọng, bảo hộ và phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc trong tư duy lập pháp, không chỉ củng cố quyền tự do tín ngưỡng mà còn luật hóa mạnh mẽ cơ chế “phát huy nguồn lực tôn giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để các tổ chức tôn giáo tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội. Tương hỗ với chính sách của Nhà nước, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (sửa đổi lần thứ VII) đã tuyên thệ mạnh mẽ lý tưởng và phương châm hoạt động cốt lõi: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” (Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2022). Sự đồng thanh tương ứng này là minh chứng sống động cho cam kết đồng hành của Phật giáo cùng hệ thống chính trị trong kỷ nguyên mới, hướng dẫn tín đồ tu học theo chánh pháp, tuân thủ Hiến pháp, và cống hiến hết mình cho sự nghiệp hưng thịnh quốc gia.
Dù vậy, khi soi chiếu từ góc độ thực tiễn của khoa học quản lý lãnh đạo hệ thống chính trị địa phương, việc khơi thông và tích hợp nguồn vốn xã hội từ di sản Phật giáo vào công tác dân vận vẫn đang bộc lộ nhiều khoảng trống. Một bộ phận cán bộ cơ sở do chưa thấu triệt cấu trúc mạng lưới và triết lý thâm sâu của đạo Phật đã rơi vào lúng túng trong ứng xử, hoặc duy ý chí áp dụng các công cụ quản lý hành chính khô cứng đối với không gian tâm linh. Ở chiều ngược lại, sự tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường đã làm nảy sinh các biến tướng như thương mại hóa tâm linh, trục lợi tín ngưỡng, làm xói mòn và suy giảm chất lượng của nguồn vốn xã hội quý giá này. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách về một tư duy quản lý tinh tế, sắc bén từ các cấp ủy Đảng và chính quyền.
Từ những lát cắt của bối cảnh lịch sử và thực tiễn sau Đại hội XIV, việc nghiên cứu cơ chế chuyển hóa tinh hoa đạo đức Phật giáo thành phương pháp lãnh đạo cơ sở mang tính nghệ thuật - biến triết lý “Lục hòa” thành phương thức kiến tạo sự đồng thuận cộng đồng, biến tinh thần “từ bi, hỷ xả” thành tâm thế phục vụ nhân dân của người cán bộ - là một nhiệm vụ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc. Nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về cấu trúc, chất lượng học thuật của một công trình nghiên cứu theo quy định hiện hành về bài báo khoa học, nghiên cứu với chủ đề “Phát huy nguồn vốn xã hội từ di sản 2000 năm Phật giáo Việt Nam trong thực hành lãnh đạo và quản lý của hệ thống chính trị cơ sở hiện nay: Tầm nhìn chính sách và định hướng phát triển” được triển khai. Bằng việc kết nối nhuần nhuyễn phương pháp luận của xã hội học trong lãnh đạo, quản lý với chiều sâu tri thức Phật học, bài viết kỳ vọng sẽ lấp đầy những khoảng trống lý luận nêu trên, cung cấp những luận cứ khoa học sắc bén góp phần định hình tầm nhìn chính sách tôn giáo và chiến lược bồi dưỡng nguồn nhân lực lãnh đạo tại cơ sở, đáp ứng trọn vẹn khát vọng bứt phá trong kỷ nguyên mới của đất nước.

Ảnh: Khai hội Chùa Hương, nguồn: VN Express
2. Phương pháp và cách tiếp cận nghiên cứu
Để giải quyết một cách thấu đáo và khoa học bài toán về việc chuyển hóa các giá trị di sản tôn giáo thành nguồn lực quản trị xã hội - một chủ đề mang tính liên ngành sâu sắc giữa khoa học chính trị, xã hội học quản lý và Phật học - bài viết được xây dựng trên một hệ thống phương pháp luận nền tảng vững chắc, kết hợp với các cách tiếp cận chuyên ngành và các phương pháp nghiên cứu cụ thể, đa chiều.
2.1. Phương pháp luận nền tảng
Nghiên cứu lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, xuyên suốt toàn bộ quá trình định hướng, phân tích và luận giải các vấn đề.
Về phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin: Bài viết vận dụng triệt để quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử khi nhìn nhận về tôn giáo. Thay vì tiếp cận tôn giáo một cách phiến diện, nghiên cứu đánh giá Phật giáo như một hình thái ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, không ngừng vận động và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo không mất đi ngay mà tiếp tục tồn tại, biến đổi và có những tác động tích cực nhất định đối với đời sống văn hóa, đạo đức của nhân dân. Do đó, việc nhìn nhận mạng lưới tự viện Phật giáo như một “nguồn vốn xã hội” chính là sự vận dụng sáng tạo quan điểm mác-xít về việc kế thừa các di sản văn hóa truyền thống để phục vụ kiến thiết xã hội mới.
Về tư tưởng Hồ Chí Minh: Nghiên cứu đặc biệt bám sát tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo và nghệ thuật vận động quần chúng (công tác dân vận). Lịch sử đã chứng minh, Người luôn đánh giá cao những giá trị đạo đức tốt đẹp của đạo Phật, coi đó là sự tương đồng với lý tưởng cộng sản. Người từng khẳng định: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ hải, thế là tôn chỉ của Phật rất cao thượng” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 124). Việc ứng dụng tư tưởng Hồ Chí Minh giúp bài viết củng cố luận điểm: người cán bộ lãnh đạo hệ thống chính trị cơ sở cần có thái độ tôn trọng tự do tín ngưỡng, khéo léo quy tụ chức sắc, tín đồ Phật giáo vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện đúng phương châm “ích đạo, lợi đời”.
2.2. Cách tiếp cận chuyên ngành
Bám sát định hướng của đề cương môn học Xã hội học trong lãnh đạo, quản lý, bài viết sử dụng các cách tiếp cận chuyên ngành hiện đại nhằm bóc tách lớp vỏ bọc tâm linh để nhìn thấu cấu trúc xã hội bên trong của thiết chế Phật giáo.
Cách tiếp cận cấu trúc - chức năng: Được khởi xướng bởi Émile Durkheim và hoàn thiện bởi Talcott Parsons, cách tiếp cận này coi xã hội như một cơ thể sống, trong đó mỗi bộ phận (thiết chế) đều thực hiện những chức năng nhất định để duy trì sự cân bằng và ổn định. Dưới lăng kính này, ngôi chùa ở làng xã miền Bắc không chỉ là nơi thờ tự (chức năng hiển ngôn) mà còn là một “thiết chế xã hội” thực hiện các chức năng tiềm ẩn vô cùng quan trọng: tích hợp xã hội, duy trì các mô hình văn hóa tiềm ẩn, và kiểm soát các hành vi sai lệch thông qua luật nhân quả. Cán bộ quản lý khi thấu hiểu lăng kính này sẽ biết cách sử dụng chùa làng như một kênh truyền thông chính sách và hòa giải cộng đồng hữu hiệu.
Cách tiếp cận lý thuyết vốn xã hội: Bài viết sử dụng khung phân tích của Robert Putnam để đo lường và đánh giá ba thành tố cấu thành vốn xã hội của Phật giáo: (1) Mạng lưới kết nối - sự gắn kết giữa các Tăng ni, Phật tử và người dân không theo đạo trong cùng một không gian cư trú; (2) Niềm tin - uy tín của các vị trụ trì, chức sắc đối với cộng đồng; và (3) Chuẩn mực chia sẻ - các giá trị “Lục hòa”, “Từ bi, hỷ xả” đã trở thành luân lý dân gian. Việc lượng hóa và khái quát hóa khối vốn này giúp trả lời câu hỏi cốt lõi: Làm thế nào hệ thống chính trị cơ sở có thể “vay mượn” và “sinh lời” từ nguồn vốn này để giải quyết các mâu thuẫn dân sự.
Cách tiếp cận liên ngành: Bài viết thực hiện sự đối thoại học thuật giữa Khoa học lãnh đạo, quản lý và Triết học Phật giáo. Những khái niệm chuyên sâu của Phật học như “Ninh tĩnh trí viễn”, “Hòa quang đồng trần”, “Bát chánh đạo” được giải mã và chuyển hóa thành những kỹ năng, thái độ và nghệ thuật “lãnh đạo mềm” dành riêng cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở.
2.3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để đảm bảo tính khách quan, trung thực và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về công bố khoa học, nghiên cứu chủ yếu sử dụng các phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sau:
Phương pháp phân tích tài liệu: Đây là phương pháp chủ đạo được sử dụng để trích xuất các luận điểm chiến lược. Tác giả tiến hành hệ thống hóa và phân tích chuyên sâu các văn bản mang tính pháp lý và định hướng chính trị cao nhất, đặc biệt là các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm chỉ ra những bước chuyển mới trong tư duy quản trị quốc gia và công tác tôn giáo. Đồng thời, nghiên cứu phân tích đối chiếu Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2026) và Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (sửa đổi lần thứ VII) để làm rõ cơ sở pháp lý và sự đồng thuận về mặt thể chế trong việc phát huy nguồn lực tôn giáo.
Phương pháp logic kết hợp lịch sử: Để phân tích sự hình thành nguồn vốn xã hội của Phật giáo, nghiên cứu ngược dòng thời gian để khảo sát sự biến thiên của Phật giáo trong chiều dài 2000 năm lịch sử dân tộc (đặc biệt là dấu ấn thời Lý - Trần), sau đó sử dụng tư duy logic để rút ra những quy luật, bài học kinh nghiệm và giá trị cốt lõi mang tính quy luật, từ đó đề xuất các giải pháp áp dụng cho thực tiễn lãnh đạo cơ sở hiện tại và tầm nhìn đến năm 2030, 2045.
Phương pháp tổng hợp và mô hình hóa: Từ những dữ liệu lý luận và thực tiễn thu thập được, bài viết tiến hành tổng hợp, trừu tượng hóa để xây dựng nên các mô hình, quy trình tham khảo trong thực hành lãnh đạo (ví dụ: mô hình giải quyết xung đột đất đai tại cơ sở dựa trên nguyên tắc “Lục hòa” và quy chế dân chủ cơ sở).
Hệ thống phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu này tạo thành một ma trận đa chiều, giúp công trình nghiên cứu không chỉ dừng lại ở những suy luận lý thuyết suông, mà thực sự chạm đến các góc khuất của thực tiễn quản lý địa phương, mang lại những giá trị khoa học có tính ứng dụng cao, đáp ứng đúng tầm vóc của một nghiên cứu lý luận chính trị chuyên sâu.
3. Kết quả và thảo luận
Tiến hành phân tích đa chiều sự giao thoa giữa lý thuyết xã hội học quản lý, triết học Phật giáo và thực tiễn sinh động của công tác điều hành tại hệ thống chính trị cơ sở những tháng giữa năm 2026 - thời điểm toàn Đảng, toàn dân đang ráo riết đưa các nghị quyết Đại hội XIV vào cuộc sống - nghiên cứu đã chắt lọc và hệ thống hóa được những kết quả thảo luận chuyên sâu mang tính chiến lược như sau:
3.1. Nhận diện nguồn vốn xã hội của Phật giáo miền Bắc dưới góc độ xã hội học quản lý
Dưới lăng kính của xã hội học hiện đại, nguồn vốn xã hội (Social Capital) hoàn toàn không phải là một dạng tài sản tự nhiên phái sinh hay một trạng thái tĩnh, mà là một cấu trúc động được kiến tạo, bồi đắp và thử lửa qua chiều dài lịch sử của một cộng đồng. Tại khu vực miền Bắc Việt Nam, cái nôi của nền văn minh lúa nước sông Hồng, không gian văn hóa bao quanh mái chùa làng từ hàng ngàn năm nay đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một nơi thực hành tín ngưỡng đơn thuần để trở thành một trung tâm cố kết cộng đồng, một “thiết chế xã hội” (social institution) mang tính hữu cơ của cấu trúc làng xã.
Khảo sát tiến trình lịch sử hơn 2000 năm Phật giáo đồng hành cùng dân tộc, đặc biệt là sự kết tinh rực rỡ của tinh thần “nhập thế” thời Lý - Trần, có thể thấy mạng lưới các cơ sở tự viện, lực lượng sư sãi và đông đảo quần chúng Phật tử đã đan cài vào nhau, tạo thành một mạng lưới xã hội phi chính thức nhưng lại sở hữu sức mạnh mềm vô cùng to lớn. Theo quan điểm của Robert Putnam về nguồn vốn xã hội, mạng lưới này hội tụ đủ cả hai đặc tính: “vốn liên kết” giúp gắn chặt những cá nhân có cùng niềm tin tôn giáo, và “vốn bắc cầu” kết nối Phật tử với những người không theo đạo trong cùng một không gian cư trú (Putnam, 2000). Mạng lưới này vận hành dựa trên cơ chế tự nguyện, điều chỉnh hành vi của con người không phải bằng chế tài cưỡng chế của nhà nước, mà thông qua lăng kính luân lý sâu sắc của “luật nhân quả” và tinh thần “từ bi, hỷ xả”.
Đặc biệt, dưới lăng kính của môn học Xã hội học trong lãnh đạo, quản lý, sự tương đồng đến kinh ngạc giữa những giá trị cốt lõi của đạo đức Phật giáo và đạo đức cách mạng chính là điểm tựa vững chắc để kiến tạo đồng thuận xã hội. Triết lý “vô ngã, vị tha” (xóa bỏ cái tôi ích kỷ để sống vì người khác) của đạo Phật có sự giao thoa, đồng điệu sâu sắc với lý tưởng “chí công vô tư”, “mình vì mọi người” của người đảng viên cộng sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh. Hồ Chí Minh từng đánh giá rất cao giá trị thực tiễn của tôn giáo này khi khẳng định: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng thế giới hòa bình, cực lạc, con người hoàn thiện, vị tha” (Viện Nghiên cứu Tôn giáo, 2018, tr. 45). Sự giao thoa này không chỉ tạo ra một hệ giá trị chung, một chuẩn mực đạo đức được toàn xã hội thừa nhận, mà còn kiến tạo nên “niềm tin” - lõi trung tâm của nguồn vốn xã hội. Đối với bộ máy quản lý nhà nước cấp cơ sở (xã, phường, đặc khu), đây là một “kho báu” vô hình nhưng mang lại hiệu quả hữu hình cực kỳ to lớn. Nếu người cán bộ biết nắm bắt, thấu hiểu và huy động được nguồn lực này, công tác dân vận sẽ chuyển từ trạng thái “tuyên truyền một chiều” sang “tương tác thấu cảm”, giúp các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước dễ dàng bén rễ vào đời sống nhân dân.
3.2. Ứng dụng triết học Phật giáo vào nghệ thuật lãnh đạo, quản lý hệ thống chính trị cơ sở
Thực tiễn sinh động và đầy thách thức trong công tác quản trị địa phương giai đoạn hiện nay - đặc biệt là sau những biến động to lớn của quá trình đô thị hóa và sự bùng nổ của không gian mạng - cho thấy: phần lớn các mâu thuẫn, xung đột xã hội cơ sở đều có gốc rễ từ sự va chạm lợi ích vật chất hoặc sự đứt gãy trong giao tiếp giữa chính quyền và người dân. Để giải quyết triệt để những “điểm nóng” này (như khiếu kiện đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, hoặc ô nhiễm môi trường), người cán bộ cơ sở không thể chỉ dùng “pháp trị” một cách cứng nhắc, mà cần phải kết hợp nhuần nhuyễn với “đức trị”, ứng dụng những giá trị minh triết của Phật giáo vào nghệ thuật lãnh đạo.
Điểm nhấn mang tính đột phá trong việc rèn luyện tâm thế người cán bộ lãnh đạo chính là việc ứng dụng tinh thần Ninh tĩnh trí viễn (giữ tâm tĩnh lặng để nhìn thấu tương lai và vươn tầm nhìn chiến lược). Trong môi trường làm việc đối diện với muôn vàn áp lực từ cấp trên và những đòi hỏi đa dạng, đôi khi là bức xúc gay gắt của công dân cấp dưới, một phong thái lãnh đạo tĩnh tại, điềm đạm là vô cùng cần thiết. Thực hành được sự tĩnh tại này giúp người cán bộ “bát phong suy bất động” - không bị cuốn vào vòng xoáy của cảm xúc nhất thời, không bị kích động bởi những thông tin nhiễu loạn. Từ đó, họ duy trì được sự sáng suốt, minh mẫn để nhìn nhận khách quan bản chất của các điểm nóng xã hội, tìm ra căn nguyên của vấn đề thay vì chỉ xử lý phần ngọn. Trí tuệ (trí viễn) chỉ có thể phát sinh khi nội tâm thực sự trong sáng, bình ổn (ninh tĩnh).
Bên cạnh đó, việc vận dụng pháp “Lục hòa” (sáu phương pháp sống hòa hợp của tăng đoàn Phật giáo) vào thực tiễn thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng mang lại một khung quản trị xung đột cực kỳ hiệu quả. “Lục hòa” bao gồm: Thân hòa đồng trụ (cùng sống hòa hợp), Khẩu hòa vô tránh (lời nói hòa hợp không tranh cãi), Ý hòa đồng duyệt (ý nghĩ hòa hợp cùng vui vẻ), Giới hòa đồng tu (cùng giữ gìn giới luật/kỷ cương), Kiến hòa đồng giải (nhận thức chung cùng chia sẻ), và Lợi hòa đồng quân (quyền lợi vật chất phân chia công bằng) (Thích Minh Châu, 2014). Nếu hệ thống chính trị cơ sở áp dụng triệt để 6 nguyên tắc này, trước hết sẽ hóa giải được mọi mâu thuẫn, bè phái ngay từ trong nội bộ Đảng ủy, Ủy ban nhân dân cấp xã, tạo nên một tập thể đoàn kết, trong sạch, vững mạnh (Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải). Từ hạt nhân đoàn kết nội bộ ấy, cán bộ sẽ tỏa ra sức mạnh cảm hóa, lan tỏa tinh thần đối thoại, thuyết phục quần chúng nhân dân (Khẩu hòa vô tránh, Ý hòa đồng duyệt). Đặc biệt, trong những vấn đề hết sức nhạy cảm và dễ phát sinh khiếu kiện như đền bù đất đai, giải tỏa hành lang an toàn giao thông, nguyên tắc Lợi hòa đồng quân (đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân) chính là chìa khóa vàng để tháo gỡ mọi nút thắt, kiến tạo sự phát triển bền vững tại địa phương.
3.3. Tầm nhìn chính sách và định hướng phát triển theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Tính đến giữa năm 2026, những định hướng phát triển mang tính vươn mình chiến lược được khẳng định trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra những yêu cầu mới mẻ và cấp bách: phải khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, ý chí tự lực tự cường và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặt trong bối cảnh vĩ mô đó, dưới góc độ khoa học quản lý nhà nước, hệ thống chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo tại cơ sở bắt buộc phải có sự chuyển mình thực chất từ tư duy “quản lý hành chính” (kiểm soát, giám sát) sang mô hình “quản trị hợp tác” (đồng hành, kiến tạo và phát huy).
Nguồn vốn xã hội từ Phật giáo chỉ có thể “sinh lời” cho quốc gia khi nó được lồng ghép vào guồng máy quản trị địa phương. Cấp ủy và chính quyền cơ sở cần chủ động rà soát, đổi mới cơ chế phối hợp với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo các cấp (từ cấp huyện đến các cơ sở tự viện cấp xã). Thay vì để các hoạt động từ thiện diễn ra tự phát, chính quyền cần đóng vai trò là “bà đỡ”, cung cấp thông tin, hỗ trợ pháp lý để biến các cơ sở tự viện thực sự trở thành những “điểm tựa thiết chế” vững chắc về an sinh xã hội. Sự hợp tác này có thể biểu hiện cụ thể qua các mô hình đồng quản lý trong việc chăm sóc người già neo đơn, trẻ mồ côi; giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng kiểm soát cảm xúc cho thanh thiếu niên; và đặc biệt là huy động nguồn lực tài chính, vật chất khổng lồ cho các chiến dịch cứu trợ nhân đạo, phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
Trong tiến trình này, sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố tiên quyết. Sự lãnh đạo ấy không thể hiện qua việc can thiệp hành chính thô bạo vào nội bộ tôn giáo, mà thể hiện ở tầm nhìn định hướng, dẫn dắt toàn bộ nguồn vốn xã hội này tuân thủ nghiêm minh khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành. Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (sửa đổi lần thứ VII) đã ghi nhận rõ phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” (Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2022, tr. 5). Dựa trên cơ sở pháp lý và luân lý này, chính quyền cơ sở cần kiên quyết, khôn khéo phối hợp cùng chức sắc Phật giáo để thanh lọc, đấu tranh không khoan nhượng với các hiện tượng lệch chuẩn đang len lỏi vào đời sống tâm linh. Việc ngăn chặn tình trạng mê tín dị đoan, thương mại hóa tâm linh, dâng sao giải hạn thu tiền trục lợi, hay lợi dụng không gian mạng để truyền bá tà đạo, chính là hành động thiết thực nhất để bảo vệ sự trong sáng của văn hóa dân tộc, giữ gìn uy tín cho Giáo hội, đồng thời bảo toàn trọn vẹn khối nguồn vốn xã hội vô giá mà các bậc tiền nhân đã dày công vun đắp suốt 2000 năm qua.
5. Tuyên bố về đóng góp khoa học
Bài báo cung cấp khung lý luận liên ngành giữa xã hội học quản lý và triết học tôn giáo, định hình một phương pháp tiếp cận mới trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nghệ thuật lãnh đạo cho đội ngũ cán bộ cơ sở tại Học viện Chính trị khu vực I (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).
6. Cam kết về mâu thuẫn lợi ích
Tác giả cam kết không có bất kỳ xung đột lợi ích nào liên quan đến quá trình nghiên cứu và công bố bài báo này.
7. Lời cảm ơn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc; Khoa Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị khu vực I đã tạo điều kiện về tư liệu và môi trường học thuật để hoàn thành nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo
Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025). Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN quy định về bài báo khoa học và đánh giá, xếp loại tạp chí khoa học Việt Nam. Công báo Chính phủ.
Bourdieu, P. (1986). The forms of capital. Trong J. Richardson (Biên tập), Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education (tr. 241-258). Greenwood.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam. (2022). Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (sửa đổi lần thứ VII). Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 5). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Học viện Chính trị khu vực I. (2025). Đề cương môn Xã hội học trong lãnh đạo, quản lý. Khoa Kinh tế - Xã hội và Môi trường.
Parsons, T. (1951). The Social System. The Free Press.
Putnam, R. D. (2000). Bowling alone: The collapse and revival of American community. Simon and Schuster.
Quốc hội. (2026). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Luật số 07/2026/QH16 ngày 23/4/2026. Thư viện pháp luật.
Thích Minh Châu. (2014). Đạo đức Phật giáo và Hạnh phúc con người. Nhà xuất bản Tôn giáo.
Viện Nghiên cứu Tôn giáo. (2018). Phật giáo Việt Nam: Lịch sử, văn hóa và xã hội. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
Bình luận
Gửi bình luận